Đọc nhiều

Giải pháp thay đổi nguyên liệu của nhà máy cồn Tùng lâm Đồng Nai.

          Nguyên liệu cho nhà máy cồn hiện nay chủ yếu chỉ là sắn khô và sắn tươi. Nguyên liệu này đang bị cạnh tranh mạnh bởi những nghành đang sử dụng sắn như là một loại nguyên liệu chính: sản xuất tinh bột sắn, sản xuất thức ăn gia súc và đặc biệt là xuất khẩu sắn khô sang Trung Quốc. Nhu cầu sử dụng sắn ngày một tăng cao, đặc biệt là Trung Quốc đang nhập khẩu ngày một nhiều từ Việt Nam để phục vụ sản xuất cồn của họ. Trong khi đó, diện tích canh tác sắn của Việt Nam đã đến giới hạn ( 500,000 ha ) khó mở rộng thêm được, nhưng năng suất sắn lại quá thấp, bình quân chỉ đạt 17-18MT/ha/năm. Nên trong trước mắt và lâu dài, sản lượng sắn Việt Nam sẽ không đủ để cung ứng cho nhu cầu sử dụng, giá sắn ngày một tăng là xu hướng tất yếu. Điều này làm giá thành cồn của Việt Nam nói chung và Tùng Lâm nói riêng tăng cao không cạnh tranh được trên thị trường xuất khẩu, lợi nhuận suy giảm thậm chí thua lỗ, nếu không có hướng giải quyết hợp lý. Các nhà máy sẽ phải đóng của hoặc giảm sản lượng. Giá nguyên liệu cao là nguyên nhân chủ yếu gây nên sản xuất cồn thua lỗ kéo dài dẫn đến hàng loạt nhà máy Cồn mới ra đời ở Việt Nam đã phải đóng cửa. Nhà máy cồn Tùng Lâm, cũng đang đối mặt với khó khăn này, tuy nhiên do có kỹ thuật sản xuất tốt, kinh nghiệm thu mua nguyên liệu lâu, chất lượng cồn cao và đa dạng, đáp ứng được các thị trường chuyên dụng nên đến nay Nhà máy cồn Tùng lâm vẫn là nhà máy duy nhất tại VN duy trì được sản xuất đều đặn với trên 75% công suất. Mặc dù vậy, để tồn tại và phát triển bền vững nhà máy cồn Tùng Lâm, bắt buộc phải nhanh chóng giải quyết vấn đề nguyên liệu cho nhà máy.

        trong khoai lang8Xây dựng “vùng chuyên canh nguyên liệu ổn định cho Nhà máy Cồn” là giải pháp quan trọng nhất - hiệu quả nhất và bền vững nhất. Để có được vùng nguyên liệu ổn định, điểm mấu chốt là tạo ra được hiệu quả canh tác để bảo đảm người nông dân và nhà máy Cồn cùng có lợi trong một liên minh cộng sinh, chặt chẽ và lâu dài. Hiện tại cũng có nhiều nhà máy đã và đang xây dựng vùng nguyên liệu của mình, nhưng trong quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề như, giá mua nông sản quá thấp người trồng không đủ bù chi phí sản xuất, nên không bán cho nhà máy chế biến, thậm chí nhiều nơi với nhiều loại cây trồng người nông dân đã phải đốt bỏ hoặc vứt bỏ sản phẩm sau thu hoạch. Đồng thời cũng nhiều nơi nhiều lúc, nông dân phá hợp đồng, bán sản phẩm cho người khác nhằm thu được lợi ích trước mắt cho riêng mình đẩy nhà máy chế biến đến đường cùng vì không có đủ nguyên liệu để sản xuất, không có hàng giao cho khách hàng dẫn đến khiếu nại đòi bồi thường lớn.Thiệt hại của nhà máy chế biến sẽ rất lớn khi này sinh tình trạng trên.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng không hay này ?

       Nguyên nhân thứ nhất: phải kể đến là tính pháp lý của liên minh giữa nông dân trồng nguyên liệu và các nhà máy chế biến chưa cao, cả hai bên đều có thể đơn phương vi phạm cam kết mà không hề bị giàng buộc bởi chế tài kinh tế nào. Từ đó hình thành sự vô trách nhiệm với chính những điều cả hai bên đã cam kết .

      Nguyên nhân thứ hai: phải kể đến là mô hình liên kết giữa nông dân ( người trồng ) với nhà chế biến không khoa học, không phù hợp với thực tế, chủ yếu dựa trên ý chí chủ quan của một bên hoặc của cả hai bên và nhiều lúc còn dựa trên ý chí chủ quan của cả chính quyền sở tại. Chủ quan duy lý chí, dẫn đến phát triển sản xuất mà không dựa trên cơ sở tính toán khoa học về điều kiện kinh tế đi kèm, không lường được các biến động trong dài hạn của thì trường tiêu thụ sản phẩm cuối cùng của chuỗi sản xuất. Nên khi thị trường tiêu thụ cuối cùng biến động theo chiều bất lợi (giá bán xuống thấp hoặc không bán được) hoặc ngược lại, toàn bộ hệ thống sản xuất nguyên liệu (nông dân) và nhà máy chế biến (sản xuất sản phẩm cuối cùng) sẽ bị phá vỡ. Hậu quả tất yếu là sản xuất nguyên liệu lại đi vào tự phát không có thị trường tiêu thụ ổn định và nhà máy chế biến thì trở nên không có vùng nguyên liệu ổn đinh hiệu quả .

       Nguyên nhân thứ ba: là năng suất/diện tích cây trồng quá thấp, chi phí canh tác tăng cao, dẫn đến giá thành nguyên liệu (nông sản) tăng cao. Giá thành nông sản cao làm cho giá của sản phẩm chế biến cuối cùng tăng cao không cạnh tranh được với giá quốc tế, thậm chí không cạnh tranh được ngay cả thị trường nội địa. Vì vậy các nhà máy chế biến buộc phải thu hẹp sản xuất, hoặc đóng cửa. Giải pháp đơn giản nhất là hạ giá thu mua nguyên liệu (nông sản) hoặc phá bỏ cam kết, không thu mua nông sản cho nông dân, để giảm lỗ nhằm duy trì sản xuất và giữ được thị trường của sản phẩm cuối cùng. Điều này trực tiếp phá hỏng quan hệ liên minh “ công sinh “ giữa nông dân và nhà máy chế biến. Đây là nguyên nhân chính yếu: năng suất quá thấp, chi phí sản xuất quá cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao, ở tình trạng như trên, Người nông dân và cả nhà chế biến đều không được lợi gì khi giá nông sản nguyên liệu tăng cao nhưng lại đều phải gánh chịu hậu quả nặng nề khi giá xuống thấp – mà giá nông sản thì luôn có xu hướng xuống thấp .

         Xây dựng vùng chuyên canh nguyên liệu là con đường đúng đắn nhưng để làm được, phải giải quyết được bài toán về năng suất – chi phí – giá thành của nguyên liệu, sao cho người nông dân có lợi, nhà chế biến có lợi. Chỉ có một con đường là “ nâng cao năng suất cây trồng – cơ khí hoá tối đa, toàn bộ quá trình canh tác từ làm đất – trồng đến chăm sóc và thu hoạch” Để đạt được mục tiêu nêu trên, lựa chọn cây nguyên liệu là vô cùng quan trọng

trong khoai langCơ sở lựa chọn cây trồng là nguyên liệu phải dựa trên các tiêu chí sau đây :

   1. Phải là cây có tinh bột cao: Cây sắn, cây khoai lang, cây ngô, hiện   tại là những cây trồng khả thi nhất.

   2. Phải có năng suất cao: Theo đó cây khoai lang HNV1 đứng đầu danh sách, thứ đến là cây sắn và cuối cùng là cây Ngô.

  3. Phải dễ canh tác cơ giới hoá: đứng đầu là cây khoai, thứ là cây Ngô cuối cùng là cây sắn.

  4. Dễ tìm đất canh tác: đứng đầu là cây Ngô, nhì đến cây khoai, cuối cùng là cây sắn.

 

5. Phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác của Nông dân tại vùng dự kiến phát triển.

6. Phải là cây ngắn ngày, thời gian sinh trưởng ngắn sẽ giúp nông dân sử dụng hiệu quả đất trồng do có thể trồng nhiều vụ/năm hoặc xen canh.

7. Phải phù hợp với các quy định của nhà nước về cây công nghiệp.

8. Phải đem lại hiệu quả trồng trọt cao hơn các cây trồng hiện tại cho người nông dân.

9. Sản phẩm của cây trồng phải phù hợp với kỹ thuật sản xuất cồn của Nhà máy cồn Tùng lâm.

        Hiện nay, cây khoai lang cao sản “ siêu tinh bột “ HNV1 là cây đáp ứng được hầu hết các tiêu chí nêu trên. Khoai lang HNV1 có nhiều tinh bột, việc nghiền nấu cũng tương tự như củ sắn, do vậy khi được dùng làm nguyên liệu sản xuất cồn, nó không làm thay đổi kỹ thuật sản xuất của nhà máy .

        Khoai lang HNV1 đã được Bộ NN và PTNT, chấp nhận cho trồng đại trà. Kết quả trồng thử tại nhà máy cồn Tùng Lâm trong năm 2014, cho năng suất trên 50 MT/ha/vụ, độ bột bình quân đạt 25% trở lên (tương đương cây sắn). Thời gian thu hoạch ngắn 120 ngày/vụ giúp có thể nâng cao sản lượng/năm trên cùng diện tích do có thể trồng 2 vụ /năm.Quan trọng hơn, giống khoai này có năng suất tiềm năng lên đến 120-140 MT/ ha /vụ, nếu được trồng thâm canh.

        Năng suất cao, sản lượng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, giúp có thể trồng 2 vụ trên cùng 01 diện tích đất, có thể cơ giới hoá từ khâu làm đất đến khâu trồng và thu hoạch, là điều kiện kỹ thuật, để hạ giá thành nguyên liệu (củ khoai ) lâu dài và ổn định. Giá thành hạ, nên giá bán nông sản có thấp thì nông dân vẫn có lãi cao. Đồng thời, khi giá nguyên liệu ổn định ở mức thấp, tạo điều kiện để hạ giá thành của sản phẩm cuối cùng ( cồn ) giúp cạnh tranh được với thị trường quốc tế, việc xuất khẩu cồn thuận lợi hơn, từ đó Nhà máy cồn sản xuất được hiệu quả, ổn định tạo đầu ra cho nông sản nguyên liệu (củ khoai). Mâu thuẫn giữa nông dân và nhà máy chế biến, nói trên mới có thể được giải quyết .

   trong khoai lang7

Hình ảnh khoai lang HNV1 đang được công ty Tùng Lâm gieo trồng

        Năm 2015, Nhà máy cồn Tùng Lâm tại ấp 4 xã Xuân Hoà - Huyện Xuân Lộc - tỉnh Đồng Nai, đã triển khai kế hoạch canh tác 6000 ha khoai HNV1 để tạo vùng nguyên liệu cho nhà máy. Nhà máy Cồn sẽ ký hợp đồng “ canh tác trồng gia công và bao tiêu sản phẩm khoai lang HNV1 “ với các doanh nghiệp, tổ chức và nông dân có đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, Theo đó Nhà máy cồn Tùng Lâm sẽ cung ứng phân bón chuyên dụng cho khoai lang, giống khoai HNV1 với điều kiện thanh toán trả chậm ( trừ vào tiền hàng ), và trợ giúp miễn phí kỹ thuật trồng chăm sóc cây khoai lang cho người trồng, bao tiêu sản phẩm củ khoai tươi với giá hợp lý .

     Đây sẽ là chìa khoá tháo gỡ khó khăn cho nhà máy cồn Tùng lâm nói riêng và các nhà máy cồn ở Việt Nam nói chung, đồng thời nó cũng góp phần thay đổi cách thức sản xuất nông ngiệp của nông dân, giúp nông dân xoá đói giảm nghèo một cách bền vững từ đó vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình.

Tùng Lâm luôn đồng hành cùng nông dân trên con đường rất tươi sáng này.